Giải quyết khó khăn cho người sản xuất VietGAP

0

Năm 2008 Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành về quy trình thực hiện sản xuất nông nghiệp tốt VietGAP, kèm theo đó là chính sách hỗ trợ của nhà nước đã được nông dân hưởng ứng tích cực. Bên cạnh đó trong quá trình triển khai thì gặp rất nhiều khó khăn,dẫn đến tình trạng nông dân không mặn mà với việc sản xuất này.

VietGAP là một quy trình, nguyên tắc, hướng dẫn tổ chức, cá nhân sản xuất, thu hoạch, sơ chế đảm bảo sản phẩm an toàn, nâng cao được chất lượng sản phẩm….; Đây là một tiêu chuẩn không bắt buộc nhằm hướng dẫn nhà sản xuất nâng ca được chất lượng, đảm bảo an toàn thực phẩm kiểm soát được các mối nguy. Trong đó có 4 tiêu chí sau :

  • Đảm bảo an toàn thực phẩm
  • Bảo vệ môi trường
  • Bảo đảm sức khỏe cho người lao động và phúc lợi xã hội
  • Bảo đảm chất lượng sản phẩm

Như vậy thực hiện quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt VietGAP ngoài việc tạo ra được nông sản sạch mà còn bảo vệ được môi trường. Đặc biệt khi thực hiện quy trình sản xuất VietGap, chủ sản xuất được được sự hỗ trợ từ nhà nước như hỗ trợ kinh phí về điều tra cơ bản, khảo sát địa hình, phân tích mẫu đất, mẫu nước, mẫu không khí để xác định các vùng sản xuất tập trung; đầu tư xây dựng, cải tạo: đường giao thông, hệ thống thủy lợi, trạm bơm, điện hạ thế, hệ thống xử lý chất thải, hệ thống cấp thoát nước; áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới trong sử dụng giống kháng sâu bệnh, thuốc bảo vệ thực vật sinh học …

Trong thời kỳ kinh tế hiện nay thực phẩm bẩn không phải là ít, gây khó khăn cho người tiêu dùng, thì VietGAP chính là cách tối ưu nhất để người tiêu dùng an tâm sử dụng.

Mỗi sản phẩm có một quy trình sản xuất tương ứng, như quy trình sản sản xuất rau, quả, cà phê…theo tiêu chuẩn VietGap; hoặc trong chăn nuôi bò, lợn, gà, dê, …theo tiêu chuẩn tiêu chuẩn ViepGap

Một quy trình trình sản xuất có nhiều tính ưu việt như thế lẽ ra phải nhận được sự hưởng ứng cao của nông dân, nhưng tại sao được triển khai từ năm 2008, đến nay đã gần 8 năm vẫn không thu được hiệu quả mong muốn. Thậm chí không ít nông dân, HTX bỏ cuộc?

Việc này có nhiều nguyên nhân, nhưng theo tôi có ba nguyên nhân chủ yếu sau:

Thứ nhất: Có những quy trình VietGap ban hành vào năm 2008, được căn cứ dựa trên những quy định của Nghị định số 163/2004/NĐ-CP ngày 7 tháng 9 năm 2004 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm (như Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau quả tươi an toàn ban hành kèm theo Quyết định số 379/QĐ-BNN-KHCN ngày 28 tháng 01 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn). Nhưng đến 2010 đã có Luật an toàn thực phẩm. Do đó quy trình trên có những điểm không còn phù hợp với những quy định của Luật an toàn thực phẩm.

Thứ hai: Để thực hiện quy trình sản xuất VietGap người sản xuất phải thực hiện quá nhiều tiêu chí. Ví dụ như để sản xuất cho rau quả an toàn thực phẩm, rau quả theo tiêu chuẩn VietGap, ban hành kèm theo Quyết định số 379/QĐ-BNN-KHCN thì người sản xuất phải thực hiện tới 93 tiêu chí. Từ việc đánh giá, lựa chọn vùng sản xuất, chọn giống, phân bón, nước tưới, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, quản lý chất thải, xử lý sản phẩm…Chỉ riêng đối với hóa chất (bao gồm cả thuốc bảo vệ thực vật, quy định tại điểm 6 quy trình trên) đã có đến 19 tiêu chí, trong đó có nhiều tiêu chí mà nông dân rất khó thực hiện, ấy là chưa kể đến việc bố trí thiết bị nhà xưởng, vệ sinh phòng dịch, ghi chép lữu trữ hàng loạt hồ sơ sổ sách …..;

Hoặc như điểm 6.19 yêu cầu “ Thường xuyên kiểm tra việc thực hiện qui trình sản xuất và dư lượng hóa chất có trong rau, quả theo yêu cầu của khách hàng hoặc cơ quan chức năng có thẩm quyền. Các chỉ tiêu phân tích phải tiến hành tại các phòng thí nghiệm đạt tiêu chuẩn quốc gia hoặc quốc tế về lĩnh vực dư lượng thuốc bảo vệ thực vật”. Mỗi lần lấy mẫu kiểm tra, số tiền không nhỏ, trong khi đó lại quy định “thường xuyên kiểm tra” thì nông dân lấy đâu ra tiền để kiểm tra? Khách hàng mua số lượng rau quả bao nhiêu thì mới phải đáp ứng yêu cầu kiểm tra, cũng chưa quy định rõ. Giả sử, khách hàng mua hàng tấn rau quả mà yêu càu kiểm tra thì còn có thể bù đắp được được chi phí; ngược lại mua với số lượng ít thì liệu số tiền thu được có đủ bù đắp chi phí kiểm tra hay không?

Thứ ba: Mặc dù nhu cầu thực phẩm sạch trên thị trường lớn nhưng đầu ra sản phẩm VietGap quá khó khăn. Tỷ lệ sản phẩm VietGap được phân phối theo hệ thống siêu thị chưa được bao nhiêu; chủ yếu vẫn bán qua thương lái; người tiêu dùng chưa có khái niệm phân biệt rau sản xuất theo quy trình VietGap với rau trồng truyền thống giá cả không chênh với sản phẩm thường là bao nhiêu. Trong khi sản xuất theo chuẩn VietGAP, nông dân phải tuân thủ theo một quy trình nghiêm ngặt từ khâu sản xuất đến thu hoạch, đóng gói, giá thành sản phẩm cao.

Tuy áp dụng mô hình này thì người nông dân vẫn phải loay hoay tìm đầu ra cho sản phẩm của mình. Gây khó khăn cho người nông dân tạo điều kiện cho cơ sở bẩn có hành vi lừa dối…;

Tháo gỡ khó khăn cho người tiêu dùng.

Trước tiên phải kể đến nhà nước cần có chính sách quản lý tận gốc từng loại sản phẩm, giúp cho người tiêu dùng phân biệt được sản phẩm của VietGAP. Từ đó cũng giúp cho người nông dân chứng minh được sản phẩm của mình.

Nhà nước cần hỗ trợ khu chợ, khu buôn bản sản phẩm rau sạch để nông dẫn có thể đem sản phẩm của mình ra tiêu thụ. Có mạng lưới phân phối tại các siêu thị…;

Tăng cường công tác hậu kiểm, cho dù cơ sở sản xuất đã được cấp giấy chứng nhận VietGap, nhưng các cơ quan có thẩm quyền, đặc biệt cơ quan cấp giấy chứng nhận phải thường xuyên tổ chức kiểm tra sản phẩm…;

Như vậy khi áp dụng hình thức này thì nhà nước cần có quy trình… và có đầu ra cho người nông dân từ đó mới giải quyết được khó khăn, mà đem được sản phẩm sạch đến người tiêu dùng.

Có thể bạn quan tâm : Dự án treo có quy định xử lý như thế nào ?

Share.

About Author

Leave A Reply

Hỗ trợ trực tuyến
icon phone
Hotline: 0965 15 13 11 - 0903 481 181